Tình trạng béo phì và các bệnh lý liên quan đang gia tăng nhanh chóng ở khu vực châu Á. Hiểu rõ các đặc điểm béo phì ở người châu Á sẽ góp phần chẩn đoán sớm và hoàn thiện các phương pháp điều trị phù hợp với người châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng.
Tổng quan
Tình hình béo phì trên thế giới
Trong những năm gần đây, tỷ lệ mắc béo phì ngày càng tăng nhanh, đặc biệt ở các nước có thu nhập thấp và trung bình. Các nước có thu nhập cao vẫn có tỷ lệ mắc béo phì cao hơn nhưng tăng chậm nhờ vào các biện pháp phòng ngừa và can thiệp điều trị. Trong khi đó, ở các nước thu nhập trung bình thấp, tỷ lệ hiện mắc béo phì ít hơn nhưng tốc độ đang tăng lên nhanh chóng.
Theo Liên đoàn Béo phì Thế giới, dự báo đến năm 2030 sẽ có khoảng 1 tỷ người bị béo phì, trong đó nam giới cứ 7 người thì có 1 người béo phì, ở nữ giới thì cứ 5 người sẽ có 1 người béo phì.
Ở Đông Nam Á, tỷ lệ béo phì đã tăng lên 40% từ năm 1990-2013. Khu vực Đông Nam Á sẽ có khoảng 52,4 triệu người trưởng thành và 21 triệu trẻ em béo phì vào năm 2030.
Các tác hại của béo phì với sức khỏe, tinh thần và kinh tế
Về mặt sức khỏe, béo phì là yếu tố nguy cơ của hơn 200 bệnh lý gồm các bệnh lý tim mạch, đột quỵ, đái tháo đường và một số loại ung thư. Năm 2017, trong khu vực Đông Nam Á có khoảng 395.000 người tử vong do các biến chứng liên quan đến béo phì. Trong đại dịch COVID-19, béo phì cũng cho thấy mối liên quan đến tình trạng nhiễm trùng nặng và làm tăng nguy cơ tử vong.
Về mặt tinh thần, người béo phì dễ trở nên trầm cảm, tự ti và đôi khi khó khăn trong các quan hệ xã hội do sợ bị kỳ thị về cân nặng.
Về mặt kinh tế, ngoài các chi phí điều trị béo phì và các bệnh lý liên quan, còn có mức hao phí do giảm năng suất, thậm chí không thể tiếp tục làm việc.
Đặc điểm béo phì ở người châu Á
Chỉ số BMI chẩn đoán tình trạng béo phì ở người châu Á thấp hơn so với thế giới
Chỉ số BMI được tính bằng cách lấy cân nặng (kg) chia cho bình phương chiều cao (m²). Trên thế giới, BMI được coi là thước đo tiêu chuẩn để đánh giá lượng mỡ trong cơ thể và đưa ra định nghĩa về thừa cân và béo phì. Người có chỉ số BMI vượt ngưỡng bình thường có nguy cơ cao mắc các bệnh lý tim mạch, ung thư, viêm khớp và hội chứng ngưng thở khi ngủ.
Ngưỡng chẩn đoán béo phì dựa trên chỉ số BMI khác nhau giữa châu Á và các khu vực khác trên thế giới. Chỉ số BMI từ 25-29,9kg/m² được coi là thừa cân và từ 30kg/m² trở lên được xác định là béo phì trên thế giới. Trong khi đó, ở khu vực châu Á, ngưỡng BMI cho thừa cân là 23-24,9kg/m² và BMI từ 25kg/m² trở lên được xem là béo phì. Bảng phân loại BMI dành cho người châu Á được trình bày chi tiết theo bảng dưới đây:
Chỉ số BMI | Tình trạng |
< 18,5 | Thiếu cân |
18,5-22,9 | Bình thường |
23-24,9 | Thừa cân |
25-29,9 | Béo phì độ I |
30-34,9 | Béo phì độ II |
≥ 35 | Béo phì độ III |
Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, có sự khác biệt này là do với cùng một chỉ số BMI thì người châu Á có lượng mỡ, nhất là mỡ nội tạng, cao hơn người da trắng. Ở mức BMI được coi là bình thường ở người da trắng thì người châu Á vẫn tăng nguy cơ mắc các bệnh lý tim mạch và chuyển hóa (đái tháo đường, rối loạn lipid máu). Vì vậy, việc đưa ngưỡng chẩn đoán thừa cân, béo phì ở châu Á thấp hơn nhằm phát hiện tốt hơn nhóm đối tượng nguy cơ mắc các bệnh lý.
Các nước châu Á có tỷ lệ béo bụng cao
Do những hạn chế kể trên của chỉ số BMI trong việc đánh giá tình trạng béo phì ở người châu Á, những thước đo mới để đánh giá lượng mỡ và nguy cơ bệnh lý được đưa ra, trong đó phổ biến nhất là số đo vòng eo.
Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), vòng eo được đo chính xác là ngang mức trung điểm giữa mép dưới xương sườn cuối cùng và bờ trên xương chậu. Vòng eo có ý nghĩa ước lượng mỡ nội tạng. Vòng eo lớn có giá trị tiên lượng nguy cơ mắc bệnh lý chuyển hóa độc lập với chỉ số BMI.
Trên toàn thế giới, vòng eo lớn hơn 100cm ở nam và 90cm ở nữ cảnh báo nguy cơ cao mắc bệnh. Tuy nhiên, ở khu vực châu Á, ngưỡng vòng eo đã được điều chỉnh là trên 90cm cho nam và 80cm cho nữ. Sự khác biệt này là do với cùng một chỉ số cân nặng, người châu Á tích tụ mỡ vùng bụng (hay còn gọi là mỡ trung tâm) nhiều hơn người da trắng.
Người châu Á có tỷ lệ đề kháng insulin cao
Béo phì được biết đến là một nguyên nhân chính gây ra tình trạng đề kháng insulin, là nguyên nhân của nhiều bệnh lý chuyển hóa, đặc biệt là đái tháo đường.
Có sự khác biệt về đề kháng insulin giữa các chủng tộc. Người châu Á thường có tỷ lệ mỡ cao hơn và lượng acid béo không este hóa (NEFA) giải phóng nhiều hơn so với các nhóm dân tộc khác, gây ra tình trạng đề kháng insulin ở gan, cơ và rối loạn lipid máu.
Tình trạng béo phì ở trẻ em ngày càng tăng
Hiện nay, béo phì không còn chỉ là mối lo ngại của các nước thu nhập cao mà đang ngày càng ảnh hưởng nhiều đến các quốc gia thu nhập trung bình và thấp. Các nước này đang phải đối mặt với cả tình trạng thừa cân và suy dinh dưỡng. Dự đoán đến năm 2030, khoảng 21 triệu trẻ em và vị thành niên dưới 19 tuổi ở khu vực Đông Nam Á sẽ gặp phải tình trạng béo phì.
Theo WHO, ở trẻ em, thừa cân được định nghĩa là khi chỉ số BMI vượt quá 1 độ lệch chuẩn (SD) so với giá trị trung bình theo tuổi và giới tính, còn béo phì là khi BMI vượt quá 2 SD so với giá trị trung bình theo tuổi và giới tính.
Béo phì ở trẻ em cũng gây ra các bệnh lý như đái tháo đường, tăng huyết áp, đau khớp, gan nhiễm mỡ và hội chứng ngưng thở khi ngủ. Các bệnh này có thể không xuất hiện khi trẻ còn nhỏ, nhưng sẽ phát bệnh ở tuổi trưởng thành hơn. Ngoài ra, béo phì cũng ảnh hưởng đến tâm lý của trẻ, nhất là khi trẻ bắt đầu đi học. Trẻ dễ tự ti, bị bạn bè trêu ghẹo và dần dần dẫn đến thụ động, xa cách xã hội và nặng hơn là trầm cảm.
Tình trạng béo phì tăng ở trẻ có thể có nhiều nguyên nhân. Trẻ em sinh ra đã thừa cân hoặc suy dinh dưỡng đều là nguy cơ của thừa cân, béo phì. Trẻ suy dinh dưỡng sẽ thích nghi bằng cách tăng tích tụ năng lượng, đồng thời trẻ thường có hành vi ăn uống không lành mạnh (ăn uống quá nhiều), nên khi có điều kiện ăn đủ sẽ tăng cân nhanh hơn. Trẻ ăn chế độ ăn bất hợp lý (như ăn vặt, ăn nhanh, ăn nhiều đồ ngọt, uống nước giải khát, thức ăn nhanh, ăn cử tối trước khi đi ngủ) là nguyên nhân quan trọng gây thừa cân, béo phì. Ngoài ra, do sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ, trẻ dần ít tham gia các hoạt động vận động thể chất và có xu hướng sống thụ động. Một phần nhỏ khác là do yếu tố di truyền, những trẻ này thì thường có bố mẹ cũng thừa cân.
* Voucher chỉ áp dụng cho khách hàng thăm khám lần đầu tiên tại phòng khám MedFit
Thực trạng béo phì tại Việt Nam
Ở Việt Nam, tỷ lệ thừa cân và béo phì tăng nhanh tại cả đô thị và nông thôn:
- Theo kết quả điều tra năm 2014-2015, tỷ lệ thừa cân, béo phì ở trẻ dưới 5 tuổi là 7,4% và ở lứa tuổi đi học là 19%. Xét riêng trong khu vực đô thị, tỷ lệ trẻ béo phì lên mức đáng báo động, tỷ lệ trẻ béo phì ở TPHCM là trên 50%, còn khu vực nội thành Hà Nội là khoảng 41%.
- Tỷ lệ người trưởng thành thừa cân và béo phì là 15,6%, kèm theo đó là sự gia tăng các bệnh lý rối loạn chuyển hóa kèm theo.
Tình trạng thừa cân và béo phì đang gia tăng nhanh chóng ở Việt Nam do một số nguyên nhân chính:
- Chế độ ăn không hợp lý: chế độ ăn truyền thống ở châu Á đa phần là ít chất béo và nhiều rau củ, nhưng do quá trình toàn cầu hóa nên Việt Nam đã du nhập các nền ẩm thực khác nhau trên thế giới với các món ăn giàu chất béo, ngọt, nhiều năng lượng.
- Lối sống ít vận động: quá trình đô thị hóa cũng làm người lao động tập trung nhiều vào các công việc văn phòng và có lối sống thụ động hơn, ít vận động hơn. Sự kết hợp cả chế độ ăn quá nhiều năng lượng và lối sống ít vận động thể lực là những yếu tố chính làm tăng tỷ lệ béo phì, ở cả trẻ em và người lớn.
- Ý thức cộng đồng chưa cao: một số ít người dân vẫn chưa ý thức được mối nguy hiểm do béo phì mang lại nên chưa chú trọng đến việc giảm cân.
- Hệ thống y tế chưa phát triển hiệu quả: hệ thống y tế hiện tại chưa dành mối quan tâm nhiều cho giáo dục sức khỏe, phòng chống và điều trị béo phì.
Trước thực trạng béo phì ngày càng tăng, Việt Nam cũng đã có những nỗ lực để cải thiện. Năm 2022, Bộ Y tế đã ban hành chiến lược quốc gia về dinh dưỡng đến năm 2025, trong đó đưa ra mục tiêu sẽ xây dựng chế độ ăn hợp lý và chế độ tập luyện cho người thừa cân, béo phì, đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến các tuyến y tế cơ sở và đến người dân.
Bên cạnh nỗ lực của nhà nước, nhận thức của từng cá nhân cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế tình trạng béo phì hiện nay.
Sự gia tăng béo phì ở người châu Á, bao gồm cả Việt Nam, đi kèm với những nguy cơ nghiêm trọng về sức khỏe như bệnh tim mạch, đái tháo đường và rối loạn chuyển hóa. Với đặc điểm cơ địa khác biệt, người châu Á cần những tiêu chuẩn đánh giá và phương pháp điều trị béo phì phù hợp hơn so với các khu vực khác. Việc nâng cao ý thức về chế độ ăn uống và lối sống lành mạnh là điều cần thiết để kiểm soát tình trạng béo phì.
Nếu bạn đang gặp khó khăn trong việc kiểm soát cân nặng hoặc muốn tư vấn thêm về phương pháp quản lý béo phì, hãy đến MedFit để nhận được sự hỗ trợ và hướng dẫn từ các chuyên gia. Liên hệ ngay với MedFit để bắt đầu hành trình chăm sóc sức khỏe toàn diện.
Tài liệu tham khảo
- Tham KW, Abdul Ghani R, et al. “Obesity in South and Southeast Asia-A new consensus on care and management“. Obes Rev. 2023 Feb;24(2):e13520. doi: 10.1111/obr.13520. Epub 2022 Dec 1. PMID: 36453081; PMCID: PMC10078503
- “Battling Obesity in ASEAN“. EU-ASEAN BUSINESS COUNCIL
- Leslie Bermont. “Three essays on Development Economics: Food Security and Nutrition. Economics and Finance“. Université Paris sciences et lettres, 2021. English. NNT: 2021UPSLD005. tel-03545829
- Quyết định số 1294/QĐ-BYT ngày 19 tháng 5 năm 2022 của Bộ Y tế về “Ban hành Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược Quốc gia về dinh dưỡng đến năm 2025“
- “Phòng chống Thừa cân – Béo phì ở trẻ nhỏ“. Viện Dinh dưỡng Quốc gia
Nếu bạn có thắc mắc về chủ đề giảm cân và giảm béo, vui lòng để lại câu hỏi. Đội ngũ nhân viên y tế Phòng khám MedFit sẽ hỗ trợ giải đáp.